|
Hệ thống bằng cấp bậc cao đẳng và đại học
Ở mỗi
bậc cao đẳng, đại học và sau đại học, có nhiều văn bằng khác nhau được
cấp cho các học sinh tốt nghiệp hay đã đạt được một số tiêu chuẩn được
đề ra trong một số ngành nghề. Ở hệ thống cao đẳng ("Community
College"), sau hai năm học và đủ điểm tốt nghiệp, học sinh được cấp văn
bằng "Associate" (5), như Associate in Arts, Associate in Applied
Science, Associate in Business Adminstration, v. v...
Ở hệ thống đại học, văn bằng "Bachelor" (tức "Cử nhân") thường được cấp
cho học sinh sau khi đã hoàn tất chương trình học. Hai bằng Bachelor of
Arts (B.A.) và Bachelor of Science (B.S. ở Mỹ hay B.Sc. ở Anh) vẫn là
hai bằng cấp thông dụng nhất(6). Ngoài hai văn bằng chung này ra, còn có
nhiều văn bằng với những tên rất cụ thể như Bachelor of Engineering (Cử
nhân Kỹ thuật), Bachelor of Architecture (Cử nhân Kiến trúc), Bachelor
of Medicine (Cử nhân Y khoa), Bachelor of Nursing (Cử nhân Điều dưỡng),
Bachelor of Economics (Cử nhân Kinh tế), Bachelor of Jurisprudence (Cử
nhân Luật học), v.v... Ngày nay, với đà tiến bộ về khoa học và kỹ thuật,
đã có hơn 600 loại bằng cử nhân trong các môn học khác nhau được cấp bởi
các trường đại học ở Mỹ!
Hệ thống bằng cấp bậc sau đại học
Ở hệ thống cao đẳng và đại học, hệ thống văn bằng khá đơn giản, nhưng ở
bậc hậu đại học thì hệ thống văn bằng rất phức tạp và có sự khác nhau
giữa các quốc gia, không những về tên gọi, danh xưng, mà còn ở tiêu
chuẩn và phương cách đào tạo.
Graduate Diploma: Đây là một loại văn bằng chỉ phổ biến ở Anh và một số
nước còn chịu ảnh hưởng hệ thống giáo dục của Anh. Như tên gọi của văn
bằng ám chỉ (Diploma có gốc Hy Lạp, "Diplous" có nghĩa là "gấp đôi"),
Graduate Diploma(7) là một văn bằng học thêm. Thực vậy, Graduate Diploma
thường dành cho (i) những người muốn theo học các môn học mà không cùng
môn học ở bậc cử nhân mà họ đã có (chẳng hạn như sinh viên đã có bằng cử
nhân về toán, nhưng muốn theo học hậu đại học nghành quản lý); và (ii)
những người không đủ khả năng hay điều kiện học bậc Master. Thời gian
học Graduate Diploma thường từ 1 tới 2 năm. Sinh viên không cần làm luận
án tốt nghiệp. Ngày nay, với sự cạnh tranh giữa các trường đại học càng
ngày càng gay gắt, số lượng sinh viên theo học Graduate Diploma ít đi
dần, vì phần đông họ tìm cách học chương trình Master. Thật ra, khoảng
phân nửa các môn học của chương trình Graduate Diploma là nằm trong
chương trình học Master.
Master: Chữ "Master" có gốc từ tiếng Anh cổ, "maegester"; và chữ này tự
nó được vay mượn từ tiếng Pháp cổ, "maistre" có nghĩa là "thầy". Cũng
như ở bậc cử nhân, hai văn bằng Master of Science (M.Sc. hay M.S.) và
Master of Arts (M.A.) là hai văn bằng thông dụng nhất ở bậc hậu đại học.
Tuy nhiên cũng có những văn bằng chuyên môn cho các ngành chuyên môn
khác như kinh tế (Master of Economics), luật (Master of Law), kỹ thuật
(Master of Engineering), v. v... Riêng tại Mỹ, có khoảng 500 văn bằng
Master khác nhau! Theo thống kê ở Mỹ, vào đầu thế kỷ 20, các trường đại
học Mỹ đã cấp 1015 văn bằng master; cho đến năm 1960, con số này tăng
lên khoảng 141 ngàn, và đến năm 1998, khoảng 420 ngàn.
Chương trình học Master, cũng giống như chương trình Graduate Diploma,
là nhằm vào mục tiêu đào tạo những chuyên viên kỹ thuật cho các cơ quan
chính phủ và công ty. Sau khi tốt nghiệp, những người này phải có một
khả năng chuyên môn vừa sâu, vừa vững vàng, có thể đáp ứng cho nhu cầu
thực tế của một cơ quan hay công ty. Chương trình Master thường dành cho
những sinh viên đã có bằng cử nhân cùng nghành. Tuy nhiên, tùy theo
trường hợp cá nhân và kinh nghiệm, các sinh viên cũng có thể theo học
các nghành chuyên môn khác với văn bằng căn bản cử nhân mà họ đã có.
Ngày nay, sinh viên trong các nghành khoa học thuần túy cũng có thể được
nhận vào học bên các nghành kinh tế hay xã hội học. Chương trình master
thường kéo dài từ 1 tới 2 năm. Nhưng cũng có trường dạy M.B.A. Ở (Master
of Business Administration) trong vòng 1 năm, với một chương trình học
rất nặng và đòi hỏi sinh viên phải học ngày học đêm.
Doctorate: Chương trình học Doctorate (9) là nhằm mục đích đào tạo những
khoa học gia chuyên nghiệp (professional scientists), những chuyên viên
nghiên cứu cấp cao cho các công ty kỹ nghệ và các cơ quan nghiên cứu
thuộc chính phủ. Những người này đóng vai trò then chốt cho nền khoa học
của một nước và là nguồn cung cấp nhân lực giảng dạy cho các trường đại
học. Thời gian học thông thường từ 3 tới 6 năm. Trong thời gian nghiên
cứu, sinh viên phải công bố ít nhất là 3 bài báo khoa học trên các tạp
chí có "peer-review" (tức được duyệt bởi các nhà khoa học làm cùng ngành)
để có thể bảo vệ luận án. Luận án thường được hai khoa học gia có uy tín
trong nước (thông thường từ các trường đại học khác) và một hoặc hai
khoa học gia uy tín ngoài nước duyệt xét và phê chuẩn. Thời gian duyệt
xét luận án có thể từ 6 tháng tới 1 năm.
Nói chung ở các nước Tây phương như Mỹ, Canada, Úc, và Anh quốc, văn
bằng tiến sĩ là văn bằng cao nhất trong hệ thống giáo dục hậu đại học.
Tuy nhiên, có vài khác biệt về tên gọi các văn bằng doctorate này giữa
các nước, và nếu không để ý, sẽ gây ra những hiểu lầm đáng tiếc.
Ở các nước như Anh và Úc, có ba dạng tiến sĩ riêng biệt: Ph.D. (Doctor
of Philosophy) cho tất cả các nghành (kể cả y khoa), M.D. (Doctor of
Medicine) riêng cho y khoa, và D.Sc. (Doctor of Science) cho tất cả các
nghành khoa học. Ở các nước này, học vị D.Sc., trên lý thuyết, được xem
cao hơn học vị Ph.D. và M.D., vì một trong những điều kiện được theo học
D.Sc. là thí sinh phải có học vị Ph.D. hay M.D. ít nhất là 10 năm và đã
có đóng góp lớn trong nghiên cứu khoa học trên trường quốc tế.
Không nên nhầm lẫn giữa văn bằng D.Sc. của Úc/Anh và của Mỹ. Ở Mỹ, văn
bằng cao nhất là Ph.D. hay tương đương. Những văn bằng tương đương Ph.D.
ở Mỹ thường gặp là D.Sc. (còn được viết tắt là "Sc.D."), Ed.D. (Doctor
of Education, Tiến sĩ Giáo dục), Dr. P.H. (Doctor of Public Health, Tiến
sĩ Y tế Công cộng), Dr. Eng. (Doctor of Engineering, Tiến sĩ Kỹ thuật).
Một số trường, chẳng hạn như Trường Đại học Harvard, học vị doctorate
của nghành Y tế Công cộng (Public Health) là D.Sc., trong khi đó ở các
trường khác lại gọi là Dr. P.H. hay Ph.D. Tương tự, ở Trường Đại học
Boston, những học sinh tốt nghiệp doctorate ngành sư phạm được gọi là
Ed.D., nhưng phần lớn ở các trường khác thì lại được gọi là Ph.D. Văn
bằng Ph.D. cũng được cấp cho các học sinh trong các ngành kỹ thuật,
nhưng có trường ở Mỹ lại gọi là Dr. Eng. Vì thế văn bằng D.Sc. của Mỹ
không tương đương với bằng D. Sc. của Úc hay Anh Quốc.
Tiến sĩ và Bác sĩ: Tiếng Việt ta phân biệt Tiến sĩ và Bác sĩ; nhưng
trong tiếng Anh, những người có học vị Ph.D. , D.Sc. và M.D. đều được
gọi là "Doctor". Tuy nhiên, có sự khác biệt giữa văn bằng M.D. của Úc/Anh
Quốc và M.D. của Mỹ. Không giống như ở Mỹ, nơi mà y khoa được dạy như
một chương trình hậu đại học ("Graduate study", tức sau khi sinh viên đã
xong chương trình Cử nhân); ở Úc và Anh, các sinh viên học y khoa được
tuyển thẳng từ các trường trung học, và do đó, chương trình y khoa được
xem là bậc đại học ("Undergraduate"), mặc dù thời gian huấn luyện tương
đương.
Trong khi các sinh viên y khoa ở Mỹ ra trường với văn bằng M.D. (Doctor
of Medicine, Tiến sĩ Y khoa), các đồng nghiệp của họ ở Úc ra trường với
hai bằng cử nhân M.B. và B.S. (Bachelor of Medicine và Bachelor of
Surgery, Cử nhân Y khoa và Cử nhân Giải phẫu). Cần được nói thêm là mặc
dù văn bằng là cử nhân, nhưng danh xưng của họ là "Bác sĩ" (Doctor).
Ở Úc, các bác sĩ đã có văn bằng M.B. B.S. có thể ghi danh theo học tiếp
chương trình Ph.D. hay M.D. Chương trình Ph. D. có mục đích đào tạo các
bác sĩ thành những nhà khoa học chuyên nghiệp, có khả năng nghiên cứu
độc lập. Chương trình M.D. có mục đích đào tạo các bác sĩ thành những
chuyên gia lâm sàng (clinical science) hơn là khoa học cơ bản (basic
science). Thông thường, sinh viên phải làm một hay hai cuộc nghiên cứu
lâm sàng (clinical studies) và viết luận án dựa trên các nghiên cứu này.
Chương trình học M.D. thông thường là 2 cho tới 3 năm (ngắn hạn hơn Ph.
D.). Do đó, văn bằng M. D. của Úc và Anh không có cùng nghĩa với văn
bằng M.D. của Mỹ.
Nguồn: Thông tin
này được trích từ bài "Hệ Thống Học Vị Và Học Hàm Khoa Học Ở Vài Nước
Tây Phương" của Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn (Úc). Đọc trọn bài tại
http://www.ykhoanet.com/NCKH/nguyenvantuan/hochamhocvi.htm
|